Pháp: Hình ảnh thi sĩ Lamartine ở Mâcon

Xin giới thiệu với các bạn một số hình ảnh thi sĩ Lamartine ở Mâcon. Lamartine là một thi sĩ trường phái lãng mạn của Pháp được sanh ra ở thành phố Mâcon trên sông Saône.

Tàu cruise của chúng tôi đậu trên bờ sông Saône thơ mộng, tại bến cảng Lamartine. Tại đây Lamartine là thần tượng. Ở đây có cảng Lamartine (Quai Lamartine), trường trung học Lamartine, và quán ăn Lamartine.

Quang cảnh sông Saône và thành phố Mâcon nơi tàu cruise đậu.

Bến cảng Lamartine ở Mâcon.

Bến cảng Lamartine những ngày cuối tuần có chợ trời rất vui. Tôi sẽ chia sẻ với các bạn sau về thành phố Mâcon, và về chợ trời này trong một bài sau. Trong bài này tôi sẽ post hình ảnh tượng Lamartine nằm trên cảng cùng tên, quang cảnh cảng Lamartine (Quai Lamartine), và về bài thơ tình “Le Lac “.

Tượng Lamartine.

Bài thơ “Le Lac” (Bờ Hồ)

Trên bến cảng Lamartine, người ta còn trưng bày bài thơ tình bất tử “Le Lac“, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Trong bài thơ này, Lamartine đã trở lại cảnh xưa, nơi chàng và nàng đã cùng nhau yêu đương say đắm, và mơ ước thời gian hãy dừng lại, để giây phút yêu đương hạnh phúc được kéo dài. Tôi không thấy bản dịch tiếng Việt, nên đã cố tìm ra bản dịch này trên Internet để chia sẻ với các bạn.

Bài thơ tình “Le Lac” được khắc dọc đường đi, rất thơ mộng. Vừa đi dọc sông Saône, vừa nghe văng vẳng lời cầu xin tha thiết của thi sĩ, Thời gian ơi hãy dừng lại.. Hay quá.

Bài thơ này được khắc trên đường đi suốt cảng Lamartine dọc sông Saône. Du khách có thể vừa đi dạo vừa đọc bài thơ này, nhìn trời mây sông Saône, và nghe văng vẳng những câu thơ Lamartine nói về mối tình thời tuổi trẻ với Elvire, tuyệt vời lắm.

Lamartine (1790-1869) là một trong những nhà thơ khởi xướng phong trào phái lãng mạn trong văn học Pháp vào thế kỷ XIX.

Bài thơ “Le Lac” được nhiều người ưa thích trong số các vần thơ của Lamartine. Trong “Le Lac”, thi sĩ trở lại chốn xưa, nơi đánh dấu cuộc tình với người tình Julie Charles (Elvire) nay đã mất.

Nhà văn VITA dịch bài thơ nầy đã hơn 70 năm qua.

Le lac

Ainsi toujours poussés vers de nouveaux rivages,
Dans la nuit éternelle emportés sans retour,
Ne pourrons-nous jamais sur l’océan des âges,
Jeter l’ancre un seul jour ?

Cái hồ

Cứ đẩy mãi xuôi vào bến mới
Trong đêm trường đưa tới chẳng về
Thời-gian, bể cả rộng ghê
Nhân-sinh chiếc bách, bến mê không ngừng?

O lac ! l’année à peine a finis sa carrière,
Et près des flots chéris qu’elle devait revoir
Regarde ! Je viens seul m’asseoir sur cette pierre
Où tu la vis s’asseoir !

Nầy hồ hỡi ! Năm dài vừa mãn,
Bên sóng yêu nàng hẳn đến nhìn,
Xem ! Ta trên đá một mình,
Mà ngươi đã thấy bạn tình khi xưa.

Tu mugissais ainsi sous ces roches profondes
Ainsi tu te brisais sur leurs flancs déchirés,
Ainsi le vent jetait l’écume de tes ondes
Sur ses pieds adorés.

Rền-rĩ thế dưới gầm động thạch,
Sóng bủa sườn, ngươi rách tả-tơi,
Gió tung bọt sóng tơi-bời,
Gót son trắng điểm, tuyệt-vời yêu-đương.

Un soir, t’en souvient-il ? nous voguions en silence,
On n’entendait au loin, sur l’onde et sous les cieux
Que le bruit des rameurs qui frappaient en cadence
Tes flots harmonieux.

Một chiều nọ, trên gương hồ phẳng,
Còn nhớ chăng? thuyền lẵng lặng trôi,
Xa xa, mặt nước, bầu trời,
Chỉ nghe rơi mái chèo…rơi nhịp nhàng.

Tout à coup des accents inconnus à la terre
Du rivage charmé frappèrent les échos,
Le flot fut attentif, et la voix qui m’est chère
Laissa tomber ces mots :

Thình lình cất tiếng nhân-gian lạ,
Bến say mê, lay cả vang-âm
Lắng nghe sóng bạc âm-thầm,
Tiếng ai yêu-dấu, bổng, trầm hữu-duyên :

O temps, suspends ton vol ! et vous, heures propices
Suspendez votre cours !
Laissez-nous savourer les rapides délices
Des plus beaux de nos jours !

Hãy dừng lại, giờ hên, phút tốt,
Khoan trôi đi ! dừng cất cánh bay !
Để ta tận hưởng vui say
Chóng qua của những chuổi ngày xuân tươi !

Assez de malheureux ici-bas vous implorent :
Coulez, coulez pour eux :
Prenez avec leurs jours les soins qui les dévorent
Oubliez les heureux !

Biết bao kẻ chơi-vơi bể khổ,
Cầu thời gian giúp họ qua mau
Nghiệp trần với khổ lo âu :
Riêng ai hạnh-phúc xin cầu ngươi quên.

Mais je demande en vain quelques moments encore,
Le temps m’échappe et fuit.
Je dis à cette nuit : « Sois plus lente », et l’aurore
Va dissiper la nuit.

Nhưng khẩn-khoản gia thêm ít khắc,
Thời-gian đành thoăn-thoắt lướt bay,
Cầu xin chậm bớt đêm nay,
Rồi vừng đông sẽ xóa ngay đêm tàn.

Aimons donc, aìmons donc, de l’heure fugitive,
Hâtons-nous, jouissons !
L’homme n’a point de port le temps n’a point de rive
Il coule et nous passons !

Hãy yêu, yêu mãi, yêu vô-lượng,
Mau vui say giờ cuộn cuộn sang :
Giờ qua đời cũng chóng tàn
Kiếp trần không bến, thời-gian không bờ !

Temps jaloux ! se peut-il que ces moments d’ivresse
Où l’amour à longs flots nous verse le bonheur,
S’envolent loin de nous de la même vitesse
Que les jours de malheur ?

Ganh chi bấy thời gian, những lúc,
Thú yêu-đương hạnh phúc tràn tuôn,
Bay đi vun-vút biệt luôn,
Cũng đồng như lúc đau, buồn, thế chăng ?

Hé quoi ! n’en pourrons-nous fixer au moins la trace
Quoi ! passés pour jamais ? quoi ! tout entier perdus ?
Ce temps qui les donna, ce temps qui les efface,
Ne nous les rendra plus ?

Ít ra cũng lưu chi dấu vết
Kìa ! qua luôn, kìa ! mất hết sao ?
Đã ban hạnh-phúc dồi-dào,
Rồi nay lại xóa chẳng bao thuở hồi ?

Éternité, néant, passé, sombres abîmes !
Que faites-vous des jours que vous engloutissez ?
Parlez : nous rendrez -vous ces extases sublimes
Que vous nous ravissez ?

Hỡi trường-cữu, hư-vô, dĩ-vãng,
Mịt-mù xa vô-hạn, vực sâu !
Ngày vui ngây-ngất chôn sao,
Thời-gian cướp đoạt có hầu trả chăng ?

O lac ! rochers muets, grottes, forêt obscure !
Vous que le temps épargne ou qu’il peut rajeunir,
Gardez de cette nuit, gardez, belle nature,
Au moins le souvenir !

Hỡi hồ đá, hang sâu, rừng tối,
Được thời-gian thấm gội trẻ xinh,
Ít ra kỷ-niệm đêm tình,
Lưu dùm, tạ-vật đượm nghìn sắc-hương !

Qu’il soit dans ton repos, qu’il soit dans tes orages,
Beau lac, et dans l’aspect de tes riants coteaux,
Et dans ces noirs sapins, et dans ces rocs sauvages
Qui pendent sur tes eaux !

Dầu bảo táp hay cơn yên-tĩnh,
Và đồi con trong cảnh sởn-sơ,
Trong rừng thông bóng âm-u,
Hay trong khóm đá hoang-vu soi hình.

Qu’il soit dans le zéphyr qui frémit et qui passe,
Dans les bruits de tes bords par tes bords répétés,
Dans l’astre au front d’argent qui blanchit ta surface
De ses molles clartés !

Dầu trong gió rùn mình nhẹ lướt,
Trong sóng đưa vỗ nước bên hồ,
Hay trong trăng bạc nhấp-nhô,
Lồng soi ngấn nước, ánh mơ dịu-dàng.

Que le vent qui gémit, le Roseau qui soupire,
Que les parfums légers de ton air embaumé,
Que tout ce qu’on entend, l’on voit ou l’on respire,
Tout dise : «Ils ont aimé ! »

Gió hiu hắt, sậy lau than vãn,
Hương thoảng xông quanh quẩn từng không !
Bao nhiêu cảnh vật cảm-thông,
Xin đồng nhắc-nhở « Tình chung nơi hồ »

Lamartine (Méditations poétiques)

VITA dịch (Trầm-tư-lục)”

(http://doanhtho.blogspot.com/2012/04/lamartine-le-lac.html)

” Alphonse Marie Louis de Prat de Lamartine (21 tháng 10, 1790 – 28 tháng 2, 1869) là một nhà thơ, nhà văn theo trường phái lãng mạn nổi tiếng của nước Pháp. Ông còn là sử gia, một chính trị gia với chức Bộ trưởng bộ ngoại giao trong chính phủ Pháp.

Lamartine sinh năm 1790 tại Mâcon, Burgundy, trong 1 gia đình quý tộc sa sút. Tuổi thơ của ông trải qua êm đềm ở làng Milly, nơi người mẹ đã dạy ông những bài học đầu tiên về tình người. Lớn lên ông vào học ở 1 trường Công giáo địa phương, sau đó nghỉ ở nhà tự học bằng cách đọc sách. Ông đọc nhiều sách của Rousseau, Chateaubriand, Bible, Dante, Swedenborg…, những tác giả này sau đó có ảnh hưởng nhiều đến văn chương của ông.

Năm 1811, ông sang Naples nước Ý để du lịch. Tại đây ông có một mối tình để 40 năm sau đó viết thành cuốn tiểu thuyết Graziella nổi tiếng. Bốn năm sau (1815), Napoléon I đánh chiếm Paris. Lamartine gia nhập đội cảnh vệ Hoàng gia, theo vua Louis XVIII chạy sang Bỉ, rồi sang Thụy Sĩ, một thời gian ngắn sau lại trở về Pháp.

Năm 1816, ông bị ốm nặng, phải vào bệnh viện ở Aix les Bains an dưỡng. Tại đây ông gặp được Julie Charles, vợ một viên sĩ quan, bị lao phổi, cũng đang điều trị. Hai người gần nhau nhiều, lại cùng cảnh ngộ, nên bất chấp thân phận, họ nảy sinh một tình yêu nồng đậm. Song cuộc tình vụng trộm ấy kéo dài chưa lâu, thì Julie Charles từ trần (tháng 12 – 1817). Mối tình đau khổ này mang lại nhiều cảm xúc nhất cho thi sĩ, khiến Lamartine viết thành tập thơ “Trầm tư”, tác phẩm nổi bật nhất trong sự nghiệp của ông.

Năm 1820, tập thơ “Trầm tư” ra đời, biến ông từ một nhà thơ tỉnh lẻ thành một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất lúc bấy giờ. Cùng năm đó ông kết hôn với Mary Ann Birch, người về sau sinh ra cho ông 2 người con, nhưng đều chết sớm.

Từ năm 1825 đến 1828, ông làm cho một toà đại sứ Pháp tại Ý. Năm sau (1829), ông gia nhập viện hàn lâm Pháp. Ngày 24 tháng 2 năm 1848, ông được bầu làm bộ trưởng Ngoại giao Pháp và giữ chức này được gần 3 tháng. Lúc này ông vẫn có chân trong chính phủ Pháp lâm thời.

Năm 1851, ông tuyên bố rút lui khỏi chính trường, về quê nhà, sống rất thiếu thốn bằng nghề viết văn.

Năm 1869, ông mất tại Paris, hưởng thọ 79 tuổi.

Tên tuổi của Lamartine gắn liền với tập thơ “Méditations” (Trầm tư), tập 1 ra đời năm 1820, tập 2 ra đời năm 1823 (còn gọi là tập “Nouvelles Méditations” (Trầm tư mới), đều được coi là những tác phẩm giá trị nhất của ông. Song những sáng tác đáng chú ý còn phải kể đến tập thơ “Harmonies poétiques et religieuses” (Hoà âm thi tứ và đạo lý, 1829), “Recueillements” (Mặc tưởng, 1839), tiểu thuyết “Jocelyn” (1836) và “Graziella” (1952).

Danh sách những sáng tác của Lamartine:
• Saül (1818)
• Méditations poétiques (1820)
• Nouvelles Méditations (1823)
• Harmonies poétiques et religieuses (1830)
• Sur la politique rationnelle (1831)
• Voyage en Orient (1835)
• Jocelyn (1836)
• La chute d’un ange (1838)
• Recueillements poétiques (1839)
• Histoire des Girondins (1847)
• Raphaël (1849)
• Confidences (1849)
• Geneviève, histoire d’une servante (1851)
• Graziella (1852)
• Les visions (1853)
• Histoire de la Turquie (1854)
• Cours familier de littérature (1856)”

(Wikipedia, http://vi.wikipedia.org/wiki/Alphonse_de_Lamartine)

About Le Thanh Hoang Dan

Born in Saigon.. Came to New York in 1975. Married with four children and eight grandchildren. Used to work on Wall Street, as a Data Administrator and Database designer for various banks , brokerage firms, and finally the Depository Trust and Clearing Corporation. Retired since 2002. Accomplishments in Viet Nam: (1) Teaching at Vỏ Trường Toản HS, Tây Ninh HS, Sađéc HS, Quốc Gia Sư Phạm Sàigòn, Đaị Học Sư Phạm Sàigòn, Đaị Học Sư Phạm Cần Thơ, Cao Đài (Tây Ninh), Hòa Hảo (Long Xuyên)... (2) Writer and Publisher ( "Trẻ" publishing house). Published many books on Education and Politics such as Các Vấn đề giáo dục, Triết Lý giáo dục, Những danh tác chánh trị, Lịch sử chiến tranh lạnh... (3) MC for a national TV show "Quê hương mến yêu" (Beloved country).. Academic accomplishments in the U.S.: MBA (in Information systems), MS in Information Systems, 2 Advanced certificates (1) Corporate Finance (2) Business Economics. All these degrees were from Pace University in New York. Hobby in retirement: Family, Friends, Ballroom dancing and Travel... Ra đi năm 1975. Cuộc đời nhiều sóng gió. Bây giờ tuổi đã già, 70 rồi. Chỉ muốn vui hưởng tuổi già với gia đình, bạn hữu, du lịch và khiêu vũ..
This entry was posted in France, Pháp and tagged , , , , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s