Pháp: Đi tìm bóng dáng của Jean-Paul Sartre

Trong chuyến Đi Tây 19 ngày vừa qua, vợ chồng tôi thăm viếng Paris trong 7 ngày. Paris lớn và thơ mộng quá, có nhiều chuyện để xem.

Có một chuyện tôi muốn làm nhất là dẫn vợ tôi đến khu đường Huchette, nằm bên bờ trái sông Seine, và khu St Germain des Prés gần đó. Tôi muốn tìm trở lại bóng dáng của thằng tôi thời tuổi trẻ, lớn lên với ảnh hưởng của nhà văn Jean-Paul Sartre, và triết học hiện sinh của ông.

Một quán cà phê ở bờ trái sông Seine trong phố La Tinh, góc đại lộ St Michel và đường Huchette.

Ngày xưa đường Huchette ở phố La Tính (Quartier Latin) và khu St Germain des Prés có nhiều chỗ nhảy Jazz dưới hầm.

Người ta gọi những nơi này là “Cave” (Hầm). Chỉ là hầm trong nhà, còn xấu hơn basement của nhà tôi ở New York, nhưng 60 năm về trước ở đây có nhiều đứa trẻ như tôi, lạc loài, không muốn sống cuộc đời buồn chán của cha mẹ, nhìn về xã hội rộng lớn, với những tranh chấp và xung đột, mong muốn một cuộc đời giá trị hơn, nhưng không biết cuộc đời đó là gì.

Quang cảnh dường Huchette ngày nay, nhiều quán ăn và du khách. Thiếu vắng thế hệ sinh viên và thế hệ trẻ hiện sinh ngày xưa.

Lúc du học ở đây, tôi thường đến đây thưởng thức và nhảy nhạc Jazz. Thế hệ đến đây tự nhận mình là thế hệ hiện sinh. Thú thật tôi không biết hiện sinh là gì, chỉ thích cách họ nhìn cuộc đời và phản kháng thế hệ đi trước mà thôi. Họ muốn sống tự do, tự do tìm ý nghĩa cuộc đời mình, không chấp nhận những hạn chế, những bức tường thế hệ trước tạo ra.

Năm nay 75 tuổi, tôi trở lại đây tìm bóng dáng xưa, tìm con người đã từng sống và suy nghĩ về thời đại của mình ở khu này, Jean-Paul Sartre và người bạn đời của ông, Simone de Beauvoir, tìm thế hệ hiện sinh ngày trước, tìm lại chính tôi thời tuổi trẻ.

Phố La Tinh ngày nay nhiều du khách, ít sinh viên, không còn những thú vui hồn nhiên của sinh viên nghèo ngày xưa nữa. Ở đây bây giờ có nhiều quán ăn quán nhậu cho du khách, rất vui nếu các bạn là du khách đến đây xài tiền.

Không còn thấy bóng dáng của họ ở khu này nữa. Lúc viếng Pantheon, nơi chôn những vĩ nhân đã làm rạng danh nước Pháp, tôi không thấy mộ của ông. Về New York tìm trên Internet tôi mới biết là ông được chôn ở Montparnasse. Tiếc quá. Không đến nghiêng mình trên mộ phần của ông được.

Xin giới thiệu với các bạn một số hình ảnh khu Huchette và khu bờ trái sông Seine nơi phong trào hiện sinh nẩy nở trong các quán cà phê và quán nhảy ở đây.

Mộ Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir tại nghĩa trang Montparnasse. Hình Wikipedia tiếng Việt.

Có một điều đáng ngạc nhiên là khi dùng Google tìm kiếm tên Jean-Paul Sartre, tôi thấy người Việt Nam mình viết nhiều bài về tác giả này. Những năm trước 1975 ở Saigon, tôi cũng thích tìm hiểu về ông. 37 năm sống tại Mỹ đã thay đổi cuộc đời tôi.

Tôi đã bỏ hẳn văn chương và triết học, chỉ chú trọng đến các vấn đề ứng dụng vi toán để tự động hóa trong địa hạt kinh tế và tài chánh ở Phố Wall mà thôi.

“Jean-Paul Charles Aymard Sartre (21 tháng 6 năm 1905 – 15 tháng 4 năm 1980) là nhà văn, nhà triết học hiện sinh Pháp]. Các tác phẩm phong phú cùng những hoạt động sôi nổi trong cuộc đời ông đã có một tác động sâu rộng trong đời sống xã hội Pháp thập niên 1950-1960, khiến ông là thần tượng của thanh niên Pháp một thời. Ông cũng được biết đến cùng với người bạn đời Simone de Beauvoir, văn chương và triết học đặc sắc của hai người ảnh hưởng lẫn nhau. Suốt đời mình ông đã từ chối những danh hiệu được tặng(trừ bầng tiến sĩ danh dự của Đại học Jerusalem), bao gồm cả giải Nobel Văn học năm 1964.

Jean-Paul Sartre là con của Jean-Baptiste Sartre, một kĩ sư hàng hải và Anne-Marie Schweitzer, một phụ nữ gốc Đức. Ông là cháu gọi Albert Schweitzer bằng cậu họ (cha đẻ của Anne-Marie Schweitzer – ông Charles Schweitzer – là anh ruột của Louis Théophile Schweitzer – cha đẻ của Albert Schweitzer). Bố mất khi cậu bé mới mười lăm tháng tuổi, mẹ đưa về ở với ông bà ngoại ở ngoại ô Paris. Năm 1911, ông ngoại thành lập học viện Ngôn ngữ Hiện đại, đưa Sartre về Paris, mời gia sư về dạy, nhưng năm 1917 mẹ lấy chồng khác và đưa con về miền Nam nước Pháp. Từ 1924 đến 1929 Sartre học tại trường Sư phạm Paris (École normale supérieure ), trở thành giáo sư triết học tại Le Havre năm 1931. Trong thời gian này ông làm quen với Simone de Beauvoir, một nhà văn lớn sau này trở thành học trò và bạn đời của ông. Năm 1932, ông theo học triết học của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Sau khi tiếp tục dạy ở Le Havre và ở Lyon, Sartre dạy ở trường trung học Pasteur ở Paris trong thời gian 1937-1939. Cuối thập niên 1930 Sartre bắt đầu viết những tác phẩm lớn của đời mình, trong đó có La Nausée (Buồn nôn, 1938), Le Mur (Bức tường, 1938), là những cuốn sách tiêu biểu cho dòng văn học phi lý đã giúp Sartre trở thành một trong những nhà văn hóa lớn nhất của nước Pháp thời kỳ này. Trong Thế chiến thứ hai, do mắt kém ông không nhập ngũ nhưng vẫn tham gia kháng chiến, bị bắt làm tù binh, sau đó bị nhốt vào trại tập trung. Năm 1941, Sartre trở về Paris tiếp tục dạy học, viết văn, làm quen với Albert Camus. Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc, ông thôi dạy học và chuyên tâm vào sáng tác văn học.

Jean-Paul Sartre là một trong số các nhà văn coi quan điểm triết học là trung tâm của hoạt động sáng tạo. Tác phẩm triết học chính L’Être et le Néant (Tồn tại và hư vô, 1943) là sự tổng hợp quan điểm chính của ông về cuộc sống. Chủ nghĩa nhân đạo hiện sinh mà Sartre truyền bá trong tiểu luận nổi tiếng L’existentialisme est un humanisme (Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân đạo) cũng được thể hiện rõ trong tiểu thuyết Les chemins de la liberté (Những con đường của tự do, 1945-1949). Từ giữa thập niên 1940, ông nghiên cứu chủ nghĩa Marx, thành lập tạp chí Les temps modernes (Thời mới), tuyên truyền các ý tưởng cách mạng, hoạt động xã hội. Năm 1964 Sartre được Viện Hàn lâm Thụy Điển quyết định trao giải Nobel nhưng ông từ chối nhận giải vì không muốn mình biến thành một thiết chế xã hội ảnh hưởng đến công việc hoạt động chính trị cấp tiến. Sartre nhiệt tình ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Algérie, Trung Quốc, Cuba, cùng với Bertrand Russell thành lập Ủy ban chống tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Những năm cuối đời Sartre bị mù, không viết được nhưng ông trả lời vô số phỏng vấn, thảo luận các vấn đề chính trị với bạn bè. Sartre cũng được biết đến nhiều với tư cách một nhà viết kịch phi lý. Ông nổi tiếng với các vở kịch Les Mouches (Ruồi) và Huis clos (Phía sau cửa đóng). Ngoài ra, Sartre còn viết phê bình văn học và các bài nghiên cứu về Charles Baudelaire, Jean Genet. Cuốn sách viết về thời niên thiếu của ông, Les mots (Lời nói), được xuất bản năm 1964.

La Nausée (Buồn nôn, 1938) là một trong những tác phẩm đáng chú ý nhất của ông. Mặc dù có một số ý kiến rằng nó chỉ là một trò chơi triết học ngụy trang dưới hình thức tiểu thuyết, nhưng sức lôi cuốn và hấp dẫn của nó là không thể phủ nhận. Câu chuyện có vẻ như là một chuỗi tự sự tiêu cực và buồn chán, chứa đựng đầy nỗi ngờ vực và trĩu nặng suy tư về tồn tại, hư vô.

Chủ nghĩa nhân đạo hiện sinh mà J. P. Sartre truyền bá trong tiểu luận nổi tiếng Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân bản cũng được thể hiện rõ trong tiểu thuyết bộ ba Les chemins de la liberté (Những con đường của tự do, 1945-1949). Tác phẩm nói về các nhân vật bị dằn vặt vì những lựa chọn, những nguyên tắc, những đòi hỏi và sự khao khát tự do; và chính trong hành trình đến với tự do hay chối bỏ tự do là điều kiện cho sự hiện hữu của các nhân vật này. Tác phẩm này là một tiếp cận ít lý thuyết và nhiều thực tế hơn, giúp cho nhiều người hiểu rõ chủ nghĩa hiện sinh.

Tác phẩm

• Esquisse d’une théorie des émotions (Đề cương lí thuyết tình cảm, 1939), khảo cứu
• L’imaginaire (Cái tưởng tượng, 1940), nghiên cứu tâm lý
• La Nausée (Buồn nôn, 1938), tiểu thuyết
• Le Mur (Bức tường, 1938), truyện
• L’Être et le Néant (Tồn tại và hư vô, 1943), tác phẩm triết học
• Les Mouches (Ruồi, 1943), kịch
• Huis clos (Kín cửa, 1944), kịch
• Réflexions sur la question juive (Suy nghĩ về vấn đề Do Thái, 1946), luận
• La putain respectueuse (Con đĩ biết lễ nghĩa, 1946), kịch
• Baudelaire (1946)
• Morts sans sépulture (Chết không mai táng, 1947), tập kịch ngắn
• L’existentialisme est un humanisme (Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân đạo, 1946), tiểu luận
• Les Mains sales (Những bàn tay bẩn, 1948), kịch
• Les chemins de la liberté (Những con đường của tự do, 1945-1949), tiểu thuyết:
o L’âge de raison
o Le sursis
o La mort dans l’âme
• Le Diable et le Bon Dieu(Quỷ dữ và Chúa lòng lành, 1951), kịch
• Saint Genet, comédien et martyr (1952), phê bình Jean Genet
• Critique de la raison dialectique (Phê phán lí trí biện chứng, 2 tập, 1960), khảo luận:
o Théorie des ensembles pratiques
o L’intelligibilité de l’histoire
• Les Séquestrés d’Altona (Những người bị cầm tù ở Altona, 1960), kịch
• Les Mots (Lời nói, 1964), hồi ký”

About Le Thanh Hoang Dan

Born in Saigon.. Came to New York in 1975. Married with four children and eight grandchildren. Used to work on Wall Street, as a Data Administrator and Database designer for various banks , brokerage firms, and finally the Depository Trust and Clearing Corporation. Retired since 2002. Accomplishments in Viet Nam: (1) Teaching at Vỏ Trường Toản HS, Tây Ninh HS, Sađéc HS, Quốc Gia Sư Phạm Sàigòn, Đaị Học Sư Phạm Sàigòn, Đaị Học Sư Phạm Cần Thơ, Cao Đài (Tây Ninh), Hòa Hảo (Long Xuyên)... (2) Writer and Publisher ( "Trẻ" publishing house). Published many books on Education and Politics such as Các Vấn đề giáo dục, Triết Lý giáo dục, Những danh tác chánh trị, Lịch sử chiến tranh lạnh... (3) MC for a national TV show "Quê hương mến yêu" (Beloved country).. Academic accomplishments in the U.S.: MBA (in Information systems), MS in Information Systems, 2 Advanced certificates (1) Corporate Finance (2) Business Economics. All these degrees were from Pace University in New York. Hobby in retirement: Family, Friends, Ballroom dancing and Travel... Ra đi năm 1975. Cuộc đời nhiều sóng gió. Bây giờ tuổi đã già, 70 rồi. Chỉ muốn vui hưởng tuổi già với gia đình, bạn hữu, du lịch và khiêu vũ..
This entry was posted in France, Pháp and tagged , , , , , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s